Hôm nay ngày: 25/03/2017. Chào mừng quý khách đến với cổng thông tin điện tử thị xã Đồng Xoài - Tỉnh Bình Phước!
Kinh tế - Xã hội
Bình Phước 42 năm sau Ngày giải phóng 23/3/1975 - 23/3/2017.
(17/3/2017)
42 năm sau ngày giải phóng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Bình Phước đã nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, tích cực hàn gắn vết thương chiến tranh, tổ chức lao động sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, xây dựng quê hương và đạt được nhiều thành tựu nổi bật. 
1. Thành tựu về kinh tế
Sau ngày giải phóng, cơ cấu kinh tế của tỉnh Bình Phước ngày nay chủ yếu là nông - lâm nghiệp, công nghiệp - thương mại - dịch vụ thì quá nhỏ bé, cơ sở hạ tầng thấp kém... Chiến tranh để lại hậu quả nặng nề, ruộng đất bỏ hoang, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, thêm vào đó là tâm lý nóng vội, chủ quan duy ý chí đã có ảnh hưởng tiêu cực, cản trở sự phát triển kinh tế của tỉnh. Thời kỳ 1986-1996, Sông Bé trở thành một trong những địa phương ghi “dấu ấn” trong công cuộc đổi mới và mở cửa. Sau khi tái lập tỉnh (năm 1997), nền kinh tế của tỉnh Bình Phước thực sự chuyển mình,cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp một cách hợp lý.
Đến nay, cơ cấu kinh tế nông - lâm - thủy sản chỉ chiếm 33,8%, giảm hơn 36% so với năm đầu tái lập tỉnh. Sản xuất từng bước gắn với chế biến và xuất khẩu, hình thành một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung. Chuyển đổi cơ cấu ngành trồng trọt được tỉnh quan tâm, ưu tiên tập trung trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao, bước đầu đã hình thành các vùng chuyên canh. Ngày càng có nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ, năng suất cao, chất lượng tốt. Chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản trước đây chỉ là nhỏ lẻ, theo hộ gia đình, đến nay đã phát triển tập trung quy mô lớn, hiện đại, với hình thức công nghiệp và bán công nghiệp gia tăng về số lượng và tính cạnh tranh trên thị trường. Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu của tỉnh là: Cao su, hạt điều, hạt tiêu, linh kiện điện tử, mặt hàng gỗ... đã có mặt trên 50 quốc gia. Chương trình xây dựng Nông thôn mới của tỉnh đạt được kết quả quan trọng. Toàn tỉnh hiện có 15/92 xã đạt chuẩn Nông thôn mới, bình quân số tiêu chí đạt được là 12 tiêu chí.
Quy mô sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp từ chỗ quá nhỏ bé, đến nay, toàn tỉnh đã có 13 khu công nghiệp, trong đó có 8 khu công nghiệp đang hoạt động, 2 khu đang đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, 3 khu đang hoàn chỉnh thủ tục đầu tư. Các khu công nghiệp đang hoạt động có gần 800 ha diện tích đất để cho thuê. Hiện nay, đã cho thuê khoản 600 ha, trong đó có 60 dự án trong nước và 107 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký gần 3.400 tỷ đồng và hơn 1 tỷ USD.
Các ngành dịch vụ phát triển đa dạng, phong phú, thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia. Trình độ công nghệ, chất lượng dịch vụ, hạ tầng thương mại từng bước phát triển theo hướng đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của Nhân dân. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội gấp hơn 41 lần so với năm 1997; cơ cấu của ngành thương mại - dịch vụ chiếm 37,5% tăng gần 13% so với năm 1997. Từ chỗ hàng hóa ít ỏi, khan hiếm, đến nay mạng lưới thương mại của các thành phần kinh tế phủ khắp tỉnh. Đến tháng 02/2017, số doanh nghiệp tăng 13 lần, số cơ sở thương mại tăng gần 7 lần và số lao động được giải quyết việc làm tăng gấp hơn 6 lần; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1.352 triệu USD, tăng gần 40 lần so với năm đầu tái lập tỉnh.
Chính sách thu hút đầu tư có nhiều đổi mới, quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của doanh nghiệp và Nhân dân. Đến nay, Bình Phước có hơn 5.200 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký gần 37.000 tỷ đồng. Toàn tỉnh có 159 dự án FDI, với tổng số vốn đăng ký trên 1.153 triệu USD, tạo việc làm cho trên 142 ngàn lao động trong và ngoài tỉnh. Bộ mặt nông thôn, đô thị thay đổi. Các hoạt động kinh doanh, dịch vụ phát triển; nhiều khu dân cư mới được xây dựng đã trở nên đông đúc. Đến cuối năm 2016, giá trị sản xuất công nghiệp đạt gần 30.000 tỷ đồng, tăng gấp 245 lần so với năm đầu tái lập tỉnh. Thu ngân sách đạt hơn 4.500 tỷ đồng.
Kết cấu hạ tầng giao thông có bước phát triển đột phá không còn cảnh đất “nắng bụi, mưa lầy”. Hiện nay, Công tác đầu tư xây dựng đạt kết quả cao; công tác bảo đảm chất lượng công trình thi công đã được chú trọng và cải thiện rõ rệt; toàn tỉnh đã có trên 500 tuyến đường với chiều dài hơn 8.000 km, trong đó quốc lộ 13, 14 đã nhựa hóa 100% và hiện đang tiếp tục nâng cấp mở rộng; đường tỉnh nhựa hóa đạt gần 99%. 100% số xã có đường nhựa đến trung tâm; hệ thống giao thông kết nối với các tỉnh giáp biên nước bạn Campuchia, các tỉnh trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam. Điện lưới quốc gia đã về hầu khắp các khu dân cư, thôn, ấp, tỷ lệ số hộ có điện đạt trên 98%, gấp 6 lần so với năm tái lập tỉnh. Thông tin liên lạc cho Nhân dân và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh được đảm bảo tốt. Cả tỉnh hiện có trên 1,1 triệu thuê bao điện thoại, đạt tỷ lệ hơn 119 thuê bao/100 dân; hơn 1.200 trạm phát sóng di động toàn tỉnh. 100% xã, phường, thị trấn có dịch vụ điện thoại cố định và đường truyền cáp quang. Inte et bằng công nghệ 3G đã phủ sóng hầu hết các địa phương trong tỉnh. Mạng bưu chính của tỉnh phát triển rộng khắp, đa dịch vụ.
2. Thành tựu về văn hóa - xã hội
Lĩnh vực giáo dục - đào tạo và y tế có nhiều tiến bộ vượt bậc. Sau ngày giải phóng, lĩnh vực giáo dục - đào tạo của tỉnh đặc biệt khó khăn. Năm 1997 tái lập tỉnh, toàn tỉnh thiếu hàng nghìn giáo viên, hàng trăm phòng học. Đến nay, sự nghiệp giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đảm bảo cân đối về quy mô, loại hình và nâng cao chất lượng, từng bước được chuẩn hóa. Mạng lưới trường, lớp được quy hoạch và phát triển tập trung, kể cả các điểm lẻ, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục trên địa bàn tỉnh. Tỉnh có 3 trường cao đẳng và nhiều cơ sở, trung tâm đào tạo nghề. Tỉnh đã hoàn thành xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học (năm 1998); đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở (năm 2009); tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia đạt gần 23% (cuối năm 2016). Số học sinh trúng tuyển vào các trường cao đẳng, đại học ngày càng nhiều, trong đó có nhiều em là người đồng bào dân tộc thiểu số.
Y tế có nhiều tiến bộ, từng bước hướng đến mục tiêu vì Nhân dân phục vụ. Đến nay, đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế không ngừng lớn mạnh với trên 3.500 người, có 7,2 bác sĩ/vạn dân, 26,5 giường bệnh/vạn dân, công suất sử dụng giường bệnh trung bình đạt 90%. Toàn tỉnh có 2 bệnh viện tuyến tỉnh, 11 trung tâm y tế huyện, thị xã, 5 bệnh viện đa khoa của các ngành và 1 bệnh viện đa khoa tư nhân với tổng số giường bệnh hơn 3.000 giường, gấp gần 8 lần so với năm 1997. Tỷ lệ trạm y tế cấp xã có bác sĩ đạt 85%. 66% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy sinh dưỡng còn hơn 14%, giảm 3 lần so với năm đầu tái lập tỉnh. Tỉnh đã cơ bản khống chế, dập được những bệnh dịch nguy hiểm, những bệnh đặc thù của địa phương như sốt rét, bướu cổ, bạch hầu; loại trừ được bệnh đậu mùa, thanh toán bại liệt. Các bệnh dịch truyền nhiễm như uốn ván, ho gà, sởi, tỷ lệ tử vong mẹ, tử vong trẻ sơ sinh đều giảm.
Hoạt động văn hóa, thể dục thể thao cho mọi người phát triển rộng khắp, đáp ứng cơ bản nhu cầu vui chơi, giải trí và rèn luyện sức khỏe cho Nhân dân. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” phát triển rộng và ngày càng đi vào chiều sâu. Toàn tỉnh có trên 92% số hộ gia đình được công nhận gia đình văn hóa, hơn 60% khu dân cư được công nhận văn hóa. Những lễ hội, nhất là các lễ hội truyền thống của đồng bào Stiêng, Khơme, Mơnông... được phục dựng. Các di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh và quốc gia được trùng tu, xây dựng và phát huy tác dụng giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. 100% thôn (ấp) đồng bào dân tộc thiểu số có nhà văn hóa cộng đồng; đặc biệt, tỉnh đã khánh thành giai đoạn 1 Khu bảo tồn văn hóa dân tộc Stiêng Sóc Bom Bo và dự án Di tích Quốc gia đặc biệt Bộ Chỉ huy Miền (Tà Thiết).Phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển rộng khắp. Số người tập luyện thể dục thể thao thường xuyên đạt 28%, số gia đình thể thao đạt 16%.60% số xã, phường, thị trấn có các đội, nhóm thường xuyên tập luyện thể dục thể thao. Thể thao chuyên nghiệp thành tích cao được quan tâm đầu tư, có kết quả tích cực.
Công tác giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội; giải quyết chế độ chính sách người có công và các nhóm yếu thế đạt được kết quả quan trọng. Tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn khoảng 5,6% theo chuẩn mới. Việc giải quyết chế độ, chính sách đối với người có công được tỉnh quan tâm tập trung chỉ đạo, giải quyết tốt theo quy định. 100% người có công được mua thẻ bảo hiểm y tế. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” có được sự hưởng ứng và đóng góp tích cực của toàn xã hội. Toàn tỉnh đã vận động xây dựng, sửa chữa trên 2.200 căn nhà tình nghĩa, trị giá 43 tỷ đồng; tặng 911 sổ tiết kiệm tình nghĩa, trị giá 671 triệu đồng; nhận phụng dưỡng 116 đối tượng người có công, trong đó có 34 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Triển khai tích cực công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 44%, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị giảm từ 4,4% xuống 3,2%, tỷ lệ sử dụng lao động ở nông thôn tăng từ 83% lên trên 90%.
3. Thành tựu về quốc phòng - an ninh và đối ngoại
Quốc phòng - an ninh của tỉnh luônđược giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; quan hệ đối ngoại rộng mở.Tiềm lực quốc phòng - an ninh và thế trận quốc phòng toàn dân được tăng cường. Khu vực phòng thủ được xây dựng đi vào chiều sâu vững chắc, sức mạnh tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu tăng lên, an ninh trên tuyến biên giới luôn đảm bảo. Tội phạm được kiềm chế, triệt phá nhiều vụ án phức tạp, nhiều băng nhóm tội phạm, ma túy, trộm cắp tài sản; tai nạn giao thông từng bước giảm cả 3 tiêu chí. Tỷ lệ thanh niên nhập ngũ hàng năm đều đạt 100% chỉ tiêu, trong đó tỷ lệ đảng viên, đoàn viên ngày càng tăng. Cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong tỉnh có tinh thần cảnh giác cao trước các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.
Quan hệ hợp tác, giao lưu hữu nghị giữa tỉnh Bình Phước với các tỉnh giáp biên giới thuộc Vương quốc Campuchia không ngừng được củng cố, tăng cường và ngày càng phát triển tốt đẹp. Đến ngày 30/11/2012, Bình Phước là tỉnh đầu tiên trong cả nước có đường biên giới với Vương quốc Campuchia hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc. Hiện nay, tỉnh đang tiến hành tăng dày hệ thống cột mốc phụ trên toàn tuyến biên giới của tỉnh tiếp giáp với các tỉnh của Vương quốc Campuchia. Công tác tìm kiếm, cất bốc hài cốt quân tình nguyện Việt Nam hy sinh trên chiến trường Campuchia được tỉnh đặc biệt quan tâm. Từ khi tái lập tỉnh đến nay, Bình Phước đã tìm kiếm, quy tập được 2.275 hài cốt liệt sỹ quân tình nguyện Việt Nam hy sinh tại Campuchia qua các thời kỳ (trong đó có 234 hài cốt có tên). Mối quan hệ giao lưu, hợp tác giữa tỉnh Bình Phước với các nước bạn Nhật Bản, Israel, Hà Lan, Bờ Biển Ngà… được mở rộng trực tiếp qua việc tìm hiểu cơ hội kinh doanh, thăm và học tập kinh nghiệm, hỗ trợ nhân đạo, trao đổi kiến thức khoa học. Tỉnh đã ký kết được chương trình hợp tác phát triển kinh tế - xã hội với thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Tây Ninh, để trao đổi kinh nghiệm, hợp tác phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thu hút đầu tư.
4. Thành tựu về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị
Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong tỉnh không ngừng được củng cố và nâng cao. Từ chỗ chỉ có 356 tổ chức cơ sở Đảng với gần 8.500 đảng viên năm tái lập tỉnh, đến nay, toàn Đảng bộ tỉnh đã có 22 Đảng bộ trực thuộc tỉnh, 840 tổ chức cơ sở đảng với hơn 32.000 đảng viên. Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ luôn được giữ vững. Những thành tựu to lớn sau 42 năm giải phóng tỉnh và hơn 20 năm tái lập, xây dựng, phát triển và hội nhập đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, năng động, sáng tạo của Tỉnh ủy là nhân tố quyết định sự thắng lợi và phát triển của tỉnh, biểu hiện rõ nét bằng những chủ trương, chính sách của Tỉnh ủy đều thể hiện rõ “ý Đảng - lòng dân”.
Các chương trình đột phá đào tạo cán bộ và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh trong giai đoạn 2005-2010 và 2010-2015 được thực hiện có hiệu quả, góp phần quan trọng xây dựng đội ngũ cán bộ phát triển cả về số lượng và chất lượng. Công tác quy hoạch đảm bảo các yêu cầu theo quy định, chuẩn bị đội ngũ cán bộ kế cận có phẩm chất, năng lực đáp ứng tốt yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cán bộ được điều động, luân chuyển, cán bộ trẻ được bổ nhiệm bảo đảm đúng chuẩn theo quy định, đã phát huy tốt năng lực, sở trường và bản lĩnh trong công tác, có uy tín với Nhân dân. Việc học tập và làm theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển biến tích cực từ nhận thức đến hành động làm theo.
Công tác cải cách hành chính được đẩy mạnh theo tinh thần phục vụ Nhân dân và doanh nghiệp. Ủy ban nhân dân tỉnh và các đơn vị chuyên môn trực thuộc thường xuyên được rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính theo hướng rút ngắn thời gian giải quyết, công khai, minh bạch. Tổ chức bộ máy ổn định và hoạt động có hiệu quả; đã quan tâm thực hiện phân cấp quản lý, tạo sự chủ động, phát huy sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các ban, sở, ngành và chính quyền các cấp trong quản lý điều hành. Kỷ luật hành chính, chất lượng công vụ được chấn chỉnh. Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường, kịp thời xử lý nghiêm và công khai các vụ án tham nhũng. Công tác tiếp dân, đối thoại với dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân được quan tâm.

Khối đại đoàn kết toàn dân luôn được giữ vững. Trong tỉnh đã xuất hiện nhiều cách làm hay, mô hình mới, nhiều điển hình “Dân vận khéo”, có sức lan tỏa, tạo được sự đồng thuận trong Nhân dân. Nhiệm vụ xây dựng Đảng, chính quyền và giám sát những lĩnh vực có liên quan đến quyền lợi và đời sống Nhân dân được thực hiện tốt. Hoạt động của hệ thống Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có nhiều chuyển biến thiết thực, hiệu quả. Đã đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tích cực vận động đoàn viên, hội viên tham gia vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giữ vững trật tự trị an, củng cố quốc phòng - an ninh, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền./.

Tác giả: HTV

Nguồn tư liệu: TLTT Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

Bài viết cùng chủ đề
 Trang đầu  «  1 [2] 3  4  5  »  Trang cuối
mot cua dien tu thi xa dong xoai


Lượt truy cập:
Online: